Tập luyện khí công để tự chữa bệnh

Địa diểm
tập luyện là nơi yên tĩnh, thoáng mát. Khi có điều kiện nên đến những nơi như đồi núi, rừng thông như Yên Tử, Côn Sơn, những nơi không khí trong lành, trong chùa hay nhà thờ tập luyện để đạt kết quả cao.



Thời gian tập luyện
Thời gian tâp luyện tốt nhất là tập vào bốn thời điểm: giờ Tý (23h-1h), giờ Ngọ (11h-13h), giờ Mão (6h-7h), giờ Dậu (17h-19h). Nhưng cái chính là chọn thời gian phù hợp hoàn cảnh của mỗi người, với bệnh lý và nhịp sinh học có thể tập vào ban đêm vào buổi sáng.

Về âm dương
Tập theo nhịp sinh học, kết quả luyện tập phụ thuộc vào âm và dương trong ngày hay nhịp sinh học ấu, tráng, lão của dương lúc ban ngày và của âm lúc ban đêm.

Về phương diện ngũ hành
Tập theo vận hành của ngũ hành, vì giờ Mão thuộc mộc, giờ Ngọ thuộc hỏa, giờ Dậu thuộc kim, giờ Tý thuộc thủy. Như vậy sẽ đạt được mục đích nhằm phát triển mộc khí, hỏa khí, kim khí và thủy khí. Mộc khí phát triển thì can khí tốt. Hỏa khí phát triển thì tâm khí tốt. Kim khí phát triển thì phế khí tốt. Thủy khí phát triển thì thận khí tốt.

Về mặt môi sinh
Có thể tập dựa vào sự thay đổi nồng độ ôxy và các bon trong khí quyển và nhịp sinh học của cây cỏ. Ban ngày cây đào thải ôxy và thu các bon để tổng hợp diệp lục. Ban đêm thì ngược lại thu ôxy và thải các bon.
Hoặc tập theo nhịp thay đổi thời tiết nóng, lạnh trong ngày. Sáng mát, trưa nóng, chiều oi ả, đêm khuya lạnh.
Tập như vậy sẽ giúp cơ thể thích nghi với sự biến động của môi trường và tạo ra những phản xạ có điều kiện để tự động điều chỉnh những rối loạn sinh lý do môi trường sinh ra.

Để chữa bệnh thì phải tùy thuộc vào bệnh tật của mỗi cá nhân mà chọn đúng giờ tập luyện. Nguyên tắc chung là:
    Bệnh vượng thì chữa vào giờ suy.
    Bệnh suy thì chữa vào giờ vượng.
    Bệnh hư (lúc âm lúc dương) chữa vào giờ hư.

Xin tham khảo bằng giờ vượng, suy, hư các tạng phủ dưới đây:


Hướng ngồi tập
Khi ngồi tập ta nên tìm hướng cho phù hợp với giờ tập. Đó là dựa vào vị trí để tập luyện, như tập vào giờ Mão thì hướng về Phương Đông, giờ Ngọ hướng về Phương Nam, giờ Dậu về Phương Tây, giờ Tý về Phương Bắc.

Tập trung tư tưởng
Khi tập luyện nên mặc quần áo rộng, thả lỏng thắt lưng, giây đồng hồ để thật thoải mái. Không nên tập vào lúc quá đói, hoặc sau khi ăn no. Khi tập những công pháp lớn hơn, ở nơi tập trung yên tĩnh nên ăn nhẹ nhàng trong suốt quá trình tập luyện.

Tập trung tư tưởng vào việc tập luyện, không để tư tưởng phân tán. Quen dần với việc xóa hết mọi tạp niệm chỉ một ý niệm tập luyện cho thuần thục và cho hiệu quả. Muốn đạt được yêu cầu như vậy phải tập trung tư tưởng để quán tưởng. (Còn gọi là sự quán khí). Đó là sự quán tưởng vào quá trình thu khí, vận hành khí, tụ khí chế hóa và tác động ở những nơi, những vùng cần thiết.

Sự quán tưởng có tụ quán và hành quán. Tụ quán là tập trung tư tưởng vào một vùng, một điểm. Tập trung bao nhiêu thì khí càng tập trung bấy nhiêu. Hành quán là tập trung tư tưởng, theo một đường. Thí dụ: mạch nhâm đi từ trên xuống hoặc theo các huyệt nằm trên mạch nhâm một cách thứ tự. Các mạch khác cũng vậy, quán theo đường mạch đi, quán theo thứ tự các mạch vị quan trọng nằm trên mạch đó.

Đồng thời phải có sự tưởng tượng, hình dung để tạo điều kiện tạo ra hưng phấn thần kinh tốt, tạo sự tự kỷ ám thị. Hưng phấn thần kinh sẽ tạo ra động năng (lực), thế năng cho khí. Hưng phấn thần kinh tốt thì phát động khí tốt. Tuy nhiên sự tưởng tượng ấy phải có định hướng (tập trung vào quá trình khí). Phải làm chủ quá trình phát sinh, vận hành, biến vi hoạt dụng khí. Nhằm một mục đích cao nhất là làm chủ bản thân và làm chủ quá trình khí trong quá trình tập luyện. Vì thế mà khí công còn được hiểu là khí công ý thức.

Mật lệnh
Trong lúc tập luyện cũng như thực hành các phác đồ vận khí Dưỡng thân tự chữa bệnh, một yếu tố quan trọng không thể bỏ qua.

Mật lệnh là tiếng nói thầm ở trong đầu hay còn gọi là mã khóa tâm thức; mã khóa tâm thức là điều kiện của một cung phản xạ có điều kiện. Cứ lặp đi lặp lại nhiều lần khi đã thành phản xạ (chương trình hóa) ta chỉ cần nhắc lại mã khóa tâm thức (nhắc lại điều kiện) thì cả quá trình phản xạ (cung phản xạ) được phát động rất nhanh và có hiệu quả.

Đã là mật lệnh thì phải rõ ràng, ngắn gọn và phải có uy lực mới tạo được điều kiện một cách bền vững và hiệu quả cao.

Thí dụ: Khi ta luyện tập bài đan điền công, ta luyện đi luyện lại nhiều lần giống nhau (không được mỗi lần tập mỗi khác) và đưa ra mật lệnh “đan điền sinh chân khí” trong mỗi lần tập. Cứ như vậy nếu được lặp đi lặp lại nhiều lần thành chương trình hóa, ta chỉ cần đọc mật lệnh “đan điền sinh chân khí” thì tất cả quá trình khai, thu, tụ, hành, xả làm xong rất nhanh. Nhanh đến mức độ ta chỉ còn thấy đan điền nóng ấm lên mà các quá trình khác ta không kịp nhận thấy.

Nếu luyện tập kiên trì liên tục, qua giai đoạn chương trình hóa sẽ chuyển qua tự động hóa. Chỉ cần nghĩ đến đan điền thì đan điền đã nóng lên không cần mật lệnh. Như vậy thực sự là luyện có kết quả cao.

Tư thế ngồi tập
Trong suốt quá trình từ khi mới tập đến khi đã thuần thục hoặc, khi tự chữa bệnh cho mình cũng đều phải thực hiện những việc sau:

- Mắt nhắm để dễ tập trung tư tưởng vào quá trình tập luyện. (cố nhân còn nói nhắm mắt để thân về tâm, tức định thần trong khi tập luyện).
- Ngồi kiết già, bán kiết già, ngồi ghế tùy theo sức khỏe nhưng phải thẳng lưng ngửa hai bàn tay tự nhiên trên hai đùi.
- Mũi không ngửi, do tập trung tư tưởng cao ta không ngửi thấy các mùi ở xung quanh.
- Tai không nghe. Nếu tập trung ta không nghe thấy những âm thanh bên ngoài.
- Miệng ngậm lại, hai hàm răng kề sít.
- Lưỡi đặt sát hàm trên, để nối mạch nhâm - đốc.


Lúc mới học ở các lớp người dẫn luyện hô bế ngũ quan, chính là nhắc mọi người thực hiện các động tác trên.
Ngoài ra cơ thể phải buông lỏng thư giãn không căng cứng. Có như vậy khí vận hành trong cơ thể mới được dễ dàng.

Theo GS-TS. Nguyễn Trọng Đàn
"Khí công Dưỡng thân-tự chữa bệnh" - NXB Y học  Hà Nội -2013

Post a Comment

0 Comments