Tạng phủ

Tạng phế:
Phế nằm trong lồng ngực. Thông thường gọi là phổi. Phế có phế trái và phế phải. Phế là tạng dương, thuộc hành kim, tàng phách, chủ khí, khai khiếu ở mũi.

Tạng phủ duong khi cong tu than

Phế chủ khí toàn thân, thanh lọc khí do thực cấp đem lại và xuất khí ra ngoài. Phế đưa khí xuống dưới và vào thận khi hít vào; khuếch tán khí ra khi thở ra. Nếu chức năng đưa khí xuống bị suy yếu sẽ làm tức ngực, khó thở và gây ho. Nếu chức năng khuếch tán bị ngăn trở sẽ làm cho khả năng chống đỡ ngoài da giảm, tà khí dễ xâm nhập gây cảm hàn.

Phế phối hợp với thận và bàng quang điều hòa nước trong cơ thể. Phế là tạng chủ trì mao (da và lông). Nếu khí phế tốt, da mịn màng, có khả năng chống ngoại tà xâm nhập; ngược lại phế suy, lỗ chân lông mở rộng, ngoại tà dễ xâm nhập, cơ thể không cường tráng.

Phế có quan hệ mật thiết với âm thanh. Người khỏe phát âm mới to, mới rõ, mới tròn vành rõ chữ.
Phế hỗ trợ các hoạt động của tim rất nhiều vì khí có thông thì huyết mới hoạt.

Đại trường
Đại trường hay đại tràng thông thường gọi là ruột già, thuộc hành kim, là phủ của phế, phối hợp với phế đào thải các chất cặn bã trong quá trình tiêu hóa. Nếu đại trường hư sẽ gây táo bón hoặc tiêu chảy.

Tạng tỳ
Tỳ thông thường gọi là lá lách, nằm trong ổ bụng dưới mạn sườn trái. Tỳ là hành thổ, thổ sinh kim, nuôi mộc, chứa thủy.

Tỳ quan hệ mật thiết với vị (vị thường gọi là dạ dầy hoặc bao tử). Khi tỳ tốt làm ta ăn ngon, chóng đói. Ngược lại, khi tỳ suy, ăn mất ngon, gầy yếu. Đói quá sẽ làm tổn thương vị khí. No quá sẽ làm tổn thương tỳ khí. Đông y cho rằng, vị là gốc của huyết và có chức năng làm thông huyết vì có thủy cốc mới sinh ra huyết theo mối quan hệ: tỳ sinh huyết, huyết sinh tinh, tinh sinh khí.

Tỳ khai khiếu ra miệng và môi. Cho nên khi tỳ, vị suy giảm thì miệng đắng, ăn không ngon.
Trong lúc tập khí công, đặt mặt trên của lưỡi vào vùng miệng sẽ kích thích bài tiết nước miếng làm môi không khô, miệng không đắng và giúp chức năng tiêu hóa của tỳ và vị.

Vị
Vị là phủ của tỳ, thuộc hành thổ. Vị là nơi chứa thủy cốc để nuôi dưỡng sáu phủ. Vị hư làm chán ăn, buồn nôn (ói) và nôn mửa. Nhưng nếu luyện tập khí công tốt, vị khí được tăng cường thì chức năng của vị sẽ tốt, giúp tiêu hóa thuận lợi.


Tạng tâm
Tâm thường gọi là tim, nằm trong lồng ngực giữa hai lá phổi và hơi lệch sang trái. Tâm là tạng dương, thuộc hành hỏa, chủ huyết và tàng thần. Khí của tâm có chiều hướng bốc lên. Tâm chủ huyết toàn thân, đưa máu đi khắp nơi trong cơ thể. Tâm khai khiếu ra lưỡi và mặt. Vì vậy, xem sắc lưỡi và sắc mặt có thể kiểm tra chức năng của tâm. Tâm chi phối thất tình - 7 thứ tình chí như: vui, giận, buồn, lo, nghĩ ngợi, kinh, sợ - làm rối loạn tâm lý và là những nguyên nhân gây bệnh. Vì thế, điều tâm rất quan trọng trong quá trình luyện tập cũng như trong cuộc sống hàng ngày.

Tiểu trường
Tiểu trường thường gọi là ruột non, thuộc hành hỏa, là phủ của tâm, chủ tiêu hóa có liên hệ với can và tỳ. Tiểu trường phối hợp với thận để đào thải nước tiểu, với đại trường để đào thải phân.

Tạng thận
Tạng thận có thận trái, thận phải, nằm hai bên cột sống vùng thắt lưng. Thận là tạng âm, thuộc hành thủy. Thận phải là dương thủy. Thận trái là âm thủy.

Thận tàng tinh, lưu trữ tinh rồi phân phối cho cơ thể để khi cần thì chuyển thành khí (khí âm hoặc khí dương). Khí âm của thận bị suy sẽ gây đa niệu; khí dương của thận bị suy sẽ gây thiểu niệu và phù nề.

Thận chủ não, tủy, xương, răng, tóc nên thận suy thì toàn thân mệt mỏi, răng tóc rụng, râu thưa. Thận còn giúp phế điều hòa các chức năng hô hấp.

Thận khai khiếu ra hai tai, đường tiểu và đường đại tiện. Cho nên thận suy làm giảm thính giác, ù tai, tiểu tiện nhiều lần, đái dầm, đái són, đại tiện phân lỏng.

Thận rất quan trọng trong cơ thể vì nó đảm trách nhiều chức năng như: bài tiết sinh dục, nội tiết và nuôi dưỡng xương, tủy.

Bàng quang
Bàng quang ở vùng bụng dưới, thuộc hành thủy, là phủ của thận chủ nước tiểu. Bàng quang bào tiết nước tiểu và cất giữ tân dịch. Tân dịch chuyển hóa ra nước tiểu. Cho nên tinh dịch thiếu, đái không thông; ngược lại, nhiều thì đái quá nhiều. Cả hai việc đều làm hao tổn tân dịch.

Tâm bào
Tâm bào thuộc hỏa. Trên thực tế, tâm bào không phải là một thực thể giải phẫu. Nhiều ý kiến cho rằng nó là màng tim. Tâm bào che chở cho tim, chống lại những tấn công từ bên ngoài. Nhất là chống nhiệt. Tâm bào khai khiếu ra lợi.

Tam tiêu
Tam tiêu là phủ của tâm bào. Nó không phải là một bộ phận giải phẫu cụ thể. Tam tiêu nằm ở phía trước cơ thể từ họng xuống hết phần bụng dưới. Nó chủ khí, chủ thủy, coi sóc toàn bộ khí hóa trong cơ thể, liên quan với lục phủ ngũ tạng.

Tạng can
Tạng can (thông thường gọi là gan) là tạng dương, thuộc hành mộc, tàng hồn, tích huyết và điều tiết huyết qua hệ thống huyết mạch của can. Can suy làm giảm lượng máu trong gan, gây mỏi cổ, trầm cảm và yếu đuối về mặt thần kinh. Bệnh của can làm đau hai bên hạ sườn, lan xuống bụng dưới. Can khí bốc lên đầu làm mất ngủ, ù tai, gây cáu gắt. Can hư gây hoa mắt, ù tai và lo sợ. Can khí quá vượng gây áp huyết tăng. Can chi phối cân mạc. Từ đó kiểm tra hoạt động của xương khớp, cơ bắp. Can khai khiếu ra mắt. Nếu chức năng của gan được tăng cường thì thị giác cũng được tăng cường.

Đởm
Đởm thường gọi là mật, là phủ của can, thuộc hành mộc, chủ tiêu hóa, tính can trường và kiên quyết. Cho nên đởm khí bị hư sẽ gây khó tiêu, sợ hãi và mất ngủ.

Theo GS-TS. Nguyễn Trọng Đàn 
"Khí công Dưỡng thân-tự chữa bệnh" - NXB Y học  Hà Nội -2013

Post a Comment

0 Comments